Qua từng đại hội, Đảng không chỉ tổng kết sâu sắc chặng đường đã qua, khẳng định những bài học lớn của cách mạng Việt Nam mà còn xác định tầm nhìn, định hướng chiến lược cho những bước phát triển tiếp theo của đất nước. Chính từ những quyết sách được hình thành tại các kỳ đại hội, niềm tin được củng cố, ý chí được hun đúc và khát vọng vươn lên của dân tộc được khơi dậy mạnh mẽ. Bắt đầu từ chương trình hôm nay, Cổng thông tin điện tử xã An Phú trân trọng giới thiệu tới quý vị và toàn thể nhân dân vắn tắt các kỳ đại hội của Đảng.
Năm 1930: BƯỚC NGOẶT VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG NƯỚC TA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
Ngày 6/1/1930 đến 7/2/1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc). Hội nghị đã nhất trí với đề xuất của Nguyễn Ái Quốc về việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị đã thông qua những văn kiện của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9/1960 quyết nghị: "Từ nay trở đi lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng".
Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là mốc son đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng Việt Nam, là bước ngoặt của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đó là thành quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
Năm 1935: CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẢNG, CHỐNG CHIẾN TRANH ĐẾ QUỐC
ĐẠI HỘI LẦN THỨ I CỦA ĐẢNG
Từ ngày 27 đến 31/3/1935 tại Ma Cao, Trung Quốc: Đại hội lần thứ I của Đảng có 13 đại biểu tham dự, thay mặt cho 600 đảng viên hoạt động ở trong nước và nước ngoài.
Đại hội đề ra ba nhiệm vụ chính: (1). Củng cố và phát triển Đảng. (2). Thâu phục quảng đại quần chúng. (3). Chống đế quốc chiến tranh.
Đại hội quyết định lập ra Ban chống đế quốc chiến tranh do Đảng lãnh đạo, bao gồm nhiều tổ chức cách mạng và cá nhân yêu nước, hòa bình và công lý.
Lần đầu tiên, Đại hội đã thông qua các nghị quyết quan trọng để tập hợp lực lượng, xây dựng phong trào quần chúng: Nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, binh lính, phụ nữ, thanh niên; về công tác liên minh phản đế; về công tác trong các dân tộc thiểu số; về đội tự vệ và cứu tế đỏ.
Đại hội công nhận Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương.
Ban Chấp hành Trung ương được bầu tại Đại hội gồm 13 đồng chí, gồm 9 ủy viên chính thức và 4 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư.
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc được cử là đại biểu của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản.
Sau năm năm hợp nhất ba tổ chức đảng, Đại hội lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng:
- Đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh gìn giữ và khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ cơ sở đến Trung ương.
- Thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 7/1936, đồng chí Hà Huy Tập được cử làm Tổng Bí thư.
Tháng 3/1938, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư.
Tháng 5/1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Pác Bó (Cao Bằng) đã bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư.
Năm 1951: LÃNH ĐẠO TOÀN DÂN KHÁNG CHIẾN THẮNG LỢI
ĐẠI HỘI LẦN THỨ II CỦA ĐẢNG
Từ ngày 11 đến 19/2/1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang: Trung ương Đảng đã triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II.
Dự Đại hội II của Đảng có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 76 vạn đảng viên sinh hoạt trong Đảng.
Lần đầu tiên được tổ chức trong nước, Đại hội đã nghiên cứu và thảo luận các báo cáo trình trước Đại hội: Báo cáo chính trị; Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam; Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng; các báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc thống nhất, Chính quyền dân chủ nhân dân, Quân đội nhân dân...
Báo cáo chính trị của Đảng khẳng định: “Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi”. “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc”. “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”.
Báo cáo cũng nêu lên nhiệm vụ chính trong nhiệm vụ mới: 1. Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn; 2. Tổ chức Đảng Lao động Việt Nam.
Sau khi thảo luận Báo cáo chính trị, Đại hội đã thông qua Nghị quyết khẳng định: Đường lối đoàn kết toàn dân, kháng chiến trường kỳ giành độc lập, dân chủ là hoàn toàn đúng, Đảng cần kiện toàn thêm sự lãnh đạo kháng chiến, tập trung lực lượng lớn hơn nữa để đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn; phải xây dựng Đảng Lao động Việt Nam có chính cương, điều lệ thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam và sẽ xây dựng những tổ chức cách mạng thích hợp với hoàn cảnh của Cao Miên và Lào...
Báo cáo bàn về cách mạng Việt Nam đã trình bày toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Báo cáo về vấn đề cách mạng Việt Nam đã phân tích tính chất của xã hội Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp. Đối tượng của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến. Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi đế quốc xâm lược, đánh đổ thế lực phong kiến phản động và nói chung các hạng bù nhìn Việt gian phản nước, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất; làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đại hội đã quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng. Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam, Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và xây dựng Đảng theo nguyên tắc một đảng vô sản kiểu mới, lấy tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt căn bản của Đảng; phê bình, tự phê bình là quy luật phát triển của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu hoạt động của Đảng.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức, 10 ủy viên dự khuyết.
Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm bảy ủy viên chính thức, một ủy viên dự khuyết; bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư.
Đại hội lần thứ II đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình trưởng thành của Đảng ta; Đảng từ bí mật trở lại hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đề ra đường lối cách mạng đúng đắn để lãnh đạo toàn dân kháng chiến thắng lợi.